ĐẠO ĐỨC HÀNH NGHỀ TRONG HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ THẨM ĐỊNH GIÁ: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP” THUỘC ĐỀ TÀI CẤP BỘ-BTC

BUTTON_POST_REPLY
Administrator
Site Admin
Bài viếtCOLON 26
Ngày tham giaCOLON Thứ 3 Tháng 7 03, 2018 9:41 am

ĐẠO ĐỨC HÀNH NGHỀ TRONG HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ THẨM ĐỊNH GIÁ: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP” THUỘC ĐỀ TÀI CẤP BỘ-BTC

Gửi bài gửi bởi Administrator » Thứ 4 Tháng 2 24, 2021 4:56 am

HỘI THẨM ĐỊNH GIÁ VIỆT NAM


CHUYÊN ĐỀ:
“ĐẠO ĐỨC HÀNH NGHỀ TRONG HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ THẨM ĐỊNH GIÁ: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP”
THUỘC ĐỀ TÀI CẤP BỘ - BỘ TÀI CHÍNH


THS. NGUYỄN TIẾN THỎA
CHỦ TỊCH
HỘI THẨM ĐỊNH GIÁ VIỆT NAM



Hà nội, tháng 2 năm 2021

MỤC LỤC
CHUYÊN ĐỀ: “ĐẠO ĐỨC HÀNH NGHỀ TRONG HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ THẨM ĐỊNH GIÁ – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP”
--------------
I. Khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản về đạo đức nghề nghiệp nói chung và đạo đức hành nghề của hoạt động cung ứng dịch vụ thẩm định giá nói riêng.
II. Thực trạng của việc tuân thủ đạo đức hành nghề trong hoạt động cung ứng dịch vụ thẩm định giá.
A. Những kết quả đạt được
B. Những thiếu sót, sai phạm:
1. Cạnh tranh “không lành mạnh” về giá dịch vụ thẩm định giá giữa các doanh nghiệp thẩm định giá.
2. Không tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về thẩm định giá.
3. Thẩm định giá, ban hành Chứng thư, Báo cáo các kết quả thẩm định giá với mức giá theo yêu cầu “mong muốn” của khách hàng, thậm chí gian dối, cấu kết với khách hàng thẩm định giá làm sai lệch hồ sơ để “thổi giá” cao hơn nhiều giá trị thực, tiếp tay cho mưu đồ của khách hàng thẩm định giá “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
4. Lợi dụng thẩm định giá tài sản để vụ lợi bất chính .
5. Năng lực chuyên môn của các thẩm định viên về giá tại hầu hết các vụ việc thẩm định giá được các cơ quan pháp luật phát hiện có sai phạm đều bị kết luận yếu kém.
C. Những nguyên nhân dẫn đến sai phạm về đạo đức hành nghề trong hoạt động cung ứng dịch vụ thẩm định giá.
1. Những nguyên nhân khách quan
2. Những nguyên nhân chủ quan


III. Kiến nghị các giải pháp chấn chỉnh, nâng cao đạo đức hành nghề trong hoạt động cung ứng dịch vụ thẩm định giá:
1) Về phía Nhà nước
2) Về phía các doanh nghiệp
3) Về phía các thẩm định viên về giá
IV. Kết luận


ĐẠO ĐỨC HÀNH NGHỀ
TRONG HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ THẨM ĐỊNH GIÁ
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP.
----------
I. Khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản về đạo đức nghề nghiệp nói chung và đạo đức hành nghề của hoạt động cung ứng dịch vụ thẩm định giá nói riêng.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh: con người muốn tồn tại và phát triển phải tiến hành lao động để sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống mình, C.Mác, Ph.Ăngghen cho rằng: “lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người” (C.Mác, Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 20, NXB CTQG, H1994 trang 641). Đặc biệt, từ khi có sự phân công lao động trong xã hội, sự phân công lao động ấy đã hình thành nên các nghề nghiệp khác nhau và nó được xem là phương thức sống, phương thức lao động cơ bản nhất của con người để tồn tại và phát triển. Quá trình lao động đó đã giúp con người hình thành nên những lối sống, nhân cách, quy tắc, thói quen… mang tính tổng quát hình thành nên đạo đức xã hội và xét cho cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước, đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ” (C.Mác, Ph.Ăng ghen Toàn tập, tập 20, NXB CTQG, H1994 trang 137). Như vậy, đạo đức xã hội: “Đó là hệ thống những quy tắc, chuẩn mực để đánh giá, điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” (8); Hoặc “Đạo đức là hệ thống quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng, xã hội” với các phạm trù cơ bản: Nghĩa vụ, lương tâm, thiện và ác (Wikipedia Tiếng Việt) – Đạo đức xã hội đó thể hiện trong những lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau của đời sống xã hội hình thành nên đạo đức riêng của từng nghề nghiệp, nó chính là đạo đức cụ thể của đạo đức xã hội – một bộ phận quan trọng gắn liền với đạo đức xã hội – phù hợp với quá trình thực hiện một hoạt động nghề nghiệp nào đó. Một xã hội có bao nhiêu ngành nghề thì đi liền với nó là có bấy nhiêu đạo đức nghề nghiệp tương ứng. Ph.Ăngghen đã viết: “Trong thực tế, mỗi giai cấp mà ngay cả mỗi nghề nghiệp đều có đạo đức riêng của mình”.
Ngày nay, khi đề cập đến đạo đức nghề nghiệp – đạo đức xã hội đặc thù trong hoạt động nghề nghiệp – các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau; ví dụ: “Đạo đức nghề nghiệp là những phẩm chất cần có của mỗi người theo đúng những quy tắc, chuẩn mực của một nghề nhất định được cộng đồng xã hội thừa nhận, nhằm điều chỉnh hành vi, thái độ của con người trong quan hệ với con người, tự nhiên và xã hội khi hành nghề (7) hoặc: “Đạo đức nghề nghiệp là những quan điểm, quy tắc và hành vi đạo đức xã hội có tính chất đặc thù trong từng ngành nghề, đòi hỏi mỗi người phải tuân thủ trong quá trình hoạt động nghề nghiệp nhằm ngày càng hoàn thiện bản thân trong quá trình hoạt động nghề nghiệp” (11); hoặc: “Đạo đức nghề nghiệp là tập hợp các chuẩn mực về nhận thức và hành vi phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định” (12); hoặc: “Đạo đức nghề nghiệp là hệ thống các giá trị và chuẩn mực quy định thái độ chủ quan của người lao động đối với công việc và sản phẩm, đối với khách hàng cũng như đồng nghiệp của mình khi làm việc trong một ngành nghề nào đó”. Hoặc “Đạo đức nghề nghiệp là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực của đạo đức xã hội, của bản thân nghề nghiệp đối với người lao động trong lĩnh vực nghề nghiệp đó nhằm định hướng và điều chỉnh hành vi ứng xử trong mối quan hệ của họ trong hoạt động của mình” (8).
Như vậy, tuy có những quan điểm, những khái niệm về đạo đức nghề nghiệp của các nhà nghiên cứu khác nhau đưa ra, nhưng khái quát lại các quan điểm, các khái niệm đó đều có những điểm chung là: Đạo đức nghề nghiệp hình thành trong quá trình hoạt động nghề nghiệp được xã hội thừa nhận, trở thành chuẩn mực, làm cơ sở tiên quyết để xây dựng nhân cách nghề nghiệp, hướng con người vươn tới Chân - Thiện - Mỹ trong hoạt động nghề nghiệp. Đạo đức nghề nghiệp thể hiện lương tâm, trách nhiệm trước cộng đồng, trước các đối tượng trực tiếp là cá nhân hay một tập thể? Nó là định hướng, mục đích của từng cá nhân hành nghề để tu dưỡng rèn luyện, học tập, không ngừng nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, coi trọng chữ tín, coi trọng thương hiệu của mình, đặt lợi ích của cộng đồng, của xã hội, của các chủ thể có liên quan lên trên lợi ích cá nhân. Nguyên tắc đạo đức có thể khác nhau tùy theo nghề nghiệp, nhưng có một số nguyên tắc chung được phổ cập trên tất cả các ngành nghề như:
• Trung thực
• Tuân thủ pháp luật
• Khách quan
• Liêm chính
• Đáng tin cậy
• Năng lực chuyên môn
• Tôn trọng người khác
• Không làm hại người khác
Từ các luận giải trên cho thấy: ngành nghề nào trong xã hội cũng cần thiết và nhất thiết phải có đạo đức nghề nghiệp, bởi nó không chỉ xuất phát từ yêu cầu khách quan của xã hội mà còn là đòi hỏi yêu cầu quản lý Nhà nước vì chính lợi ích của ngành nghề và lợi ích của cộng đồng. Vì thế, xây dựng đạo đức nghề nghiệp không thể thiếu trong văn hóa lao động của một đơn vị ngành nghề, thể hiện tính chuyên nghiệp của mỗi con người và mỗi nghề nghiệp. Thực hiện tốt đạo đức nghề nghiệp được coi là chìa khóa dẫn đến thành công trong mọi hoạt động nghề nghiệp nói chung và là nền tảng để người lao động nghề nghiệp đạt được thành công, được vinh danh trong cuộc sống nói riêng và ngược lại.
Thẩm định giá là một nghề cung ứng dịch vụ thẩm định giá cho khách hàng có nhu cầu thẩm định giá không nằm ngoài những yêu cầu chung đó, nhưng vẫn có đạo đức nghề nghiệp riêng của chính mình. Đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động thẩm định giá chính là những quy tắc, chuẩn mực của nghề nghiệp thẩm định giá được Nhà nước quy định buộc các thẩm định viên về giá, các doanh nghiệp thẩm định giá phải thực hiện để tạo ra những phẩm chất cần có, lương tâm nghề nghiệp tận tâm, tận tụy với công việc, không vụ lợi, thái độ ứng xử, trách nhiệm với công việc, với nghề, với sản phẩm dịch vụ mình làm ra. Đạo đức hành nghề thẩm định giá cung cấp những quy tắc chi phối các thẩm định viên về giá, các doanh nghiệp thẩm định giá không chỉ dừng lại ở việc phải hành động, ứng xử, cung ứng dịch vụ đáp ứng nhu cầu của các khách hàng thẩm định giá thuộc các thành phần kinh tế mà còn phải tuân thủ các quy định về đạo đức hành nghề vì lợi ích chung của toàn xã hội. Tuân thủ đạo đức hành nghề trong hoạt động thẩm định giá sẽ đưa lại những lợi ích thiết thực cho hoạt động thẩm định giá như: sẽ nâng cao được chất lượng hoạt động thẩm định giá, được xã hội nhìn nhận, đánh giá các thẩm định viên về giá, các doanh nghiệp thẩm định giá có chuẩn mực đạo đức trong nghề, từ đó nâng cao được hình ảnh, danh tiếng và uy tín trên thị trường, giảm thiểu được các rủi ro và các nguy cơ bất ổn tiềm tàng có thể xảy ra đối với thẩm định viên về giá và doanh nghiệp thẩm định giá.
II. Thực trạng của việc tuân thủ đạo đức hành nghề trong hoạt động cung ứng dịch vụ thẩm định giá.
A. Những kết quả đạt được
Thẩm định giá ở nước ta là một ngành nghề ra đời muộn hơn so với nhiều ngành nghề khác trong nền kinh tế. Nó chỉ được hình thành từ sau khi Việt Nam chuyển nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường, đi liền với nó là chuyển cơ chế giá do Nhà nước định đoạt áp đặt sang cơ chế giá thị trường. Từ đặc điểm và thực tiễn của ngành nghề, lần đầu tiên năm 2005 Bộ Tài chính đã ban hành Tiêu chuẩn Thẩm định giá số 3 về “Những quy tắc đạo đức hành nghề thẩm định giá tài sản”. Mục đích của việc ban hành Tiêu chuẩn này nhằm quy định những quy tắc đạo đức chi phối thẩm định viên về giá, doanh nghiệp, tổ chức thẩm định giá trong quá trình hành nghề thẩm định giá tài sản với các chuẩn mực sau:
• Tiêu chuẩn đạo đức, gồm:
- Độc lập
- Chính trực
- Khách quan
- Bí mật
- Công khai, minh bạch
• Trình độ chuyên môn, gồm:
- Năng lực chuyên môn và tính thận trọng
- Tư cách nghề nghiệp
- Tuân thủ tiêu chuẩn chuyên môn.
Tiêu chuẩn này được ban hành thời điểm đó chưa có Luật Giá, do đó hạn chế của Tiêu chuẩn này là chưa xác định các chuẩn mực về “trình độ chuyên môn” thuộc chuẩn mực đạo đức hành nghề, do đó Tiêu chuẩn này được thi hành đến năm 2014 thì Bộ Tài chính đã tiến hành sửa đổi, bổ sung, thay thế bằng Tiêu chuẩn số 1: “Những quy tắc đạo đức hành nghề thẩm định giá” ban hành kèm theo Thông tư số 158/2014/TT-BTC ngày 27/10/2014. Tiêu chuẩn số 1 đã kế thừa tính hợp lý một số nội dung của Tiêu chuẩn số 3 và sửa đổi bổ sung một số điểm mới như: Xác định “Tiêu chuẩn chuyên môn” thuộc chuẩn mực đạo đức; Nội hàm của các chuẩn mực được bổ sung rõ hơn theo quy định của Luật Giá ban hành năm 2012. Các nguyên tắc đạo đức bao trùm của Tiêu chuẩn số 1 là:
- Độc lập
- Chính trực
- Khách quan
- Bảo mật
- Công khai, minh bạch
- Năng lực chuyên môn và tính thận trọng
- Tư cách nghề nghiệp
- Tuân thủ tiêu chuẩn chuyên môn
Những chuẩn mực đạo đức hành nghề thẩm định giá tại Tiêu chuẩn số 1 nêu trên đã đặt ra các yêu cầu rất đúng về trách nhiệm của thẩm định viên và doanh nghiệp trong việc phải điều chỉnh các mối quan hệ với pháp luật, mối quan hệ với khách hàng, xác định hành vi ứng xử của bản thân và mối quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp… Tuy đó chỉ là những định hướng, không có định lượng, thước đo cụ thể, nhưng những quy định được nêu ra là khá rõ ràng: Những công việc nào bắt buộc thẩm định viên phải tuân thủ và những công việc nào thẩm định viên và doanh nghiệp không được làm thống nhất với những quy định có tính định lượng của Luật Giá và các văn bản hướng dẫn Luật Giá về định giá và thẩm định giá, đặc biệt là các thước đo chấm điểm chất lượng hoạt động thẩm định giá do Bộ Tài chính ban hành. Thực tiễn thực thi Tiêu chuẩn này cho thấy Tiêu chuẩn không chỉ phù hợp với điều kiện hoạt động hành nghề thẩm định giá ở nước ta mà còn phù hợp với thông lệ quốc tế. Chính nó đã tạo ra một hành lang pháp lý cần thiết để thẩm định viên về giá, doanh nghiệp thẩm định giá có thể thực hiện công việc với chất lượng cao, tuân thủ pháp luật và cung ứng dịch vụ thẩm định giá tốt nhất cho khách hàng thẩm định giá.
Song song với Tiêu chuẩn số 1 do Bộ Tài chính ban hành, Hội Thẩm định giá Việt Nam cũng đã ban hành Quyết định số 148/2018/QĐ-HTĐGVN ngày 1/8/2018 về Quy tắc đạo đức trong hoạt động của Hội Thẩm định giá Việt Nam áp dụng trong nội bộ Hội gồm: các thành viên Ban Chấp hành, các tổ chức do Hội thành lập, các hội viên là các thẩm định viên về giá và các doanh nghiệp thẩm định giá. Mục đích của Quy tắc nhằm nâng cao chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của các hội viên, nâng cao chất lượng dịch vụ, ngăn ngừa việc lợi dụng hoạt động của Hội để làm phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội, đạo đức thuần phong mỹ tục, truyền thống của dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Bản Quy tắc này gồm 8 Quy tắc tóm tắt như sau:
 Quy tắc 1: Tuân thủ pháp luật về thẩm định giá
 Quy tắc 2: Tuân thủ đạo đức nghề nghiệp do Bộ Tài chính ban hành
 Quy tắc 3: Nhất quán phương châm hoạt động: “Đoàn kết, hợp tác, đảm bảo chất lượng và tiện ích dịch vụ; nâng cao uy tín, đạo đức nghề nghiệp và sự tin cậy của khách hàng…
 Quy tắc 4: Không được thực hiện các hoạt động cạnh tranh “không lành mạnh”, trái pháp luật…
 Quy tắc 5: Chống rủi ro đạo đức
 Quy tắc 6: Trách nhiệm với khách hàng
 Quy tắc 7: Trách nhiệm với xã hội
 Quy tắc 8: Tránh xung đột lợi ích trong nội bộ hội viên, giữa các hội viên với tổ chức, cá nhân chưa gia nhập Hội.
Thực hiện Quy tắc trên, đến nay hầu hết các hội viên là doanh nghiệp thẩm định giá, thẩm định viên về giá thực hiện tốt chưa phát hiện sai phạm, duy nhất có một hội viên là doanh nghiệp thẩm định giá bị Thanh tra Chính phủ phát hiện có những thiếu sót, chưa thực hiện đúng Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam trong vụ thẩm định giá doanh nghiệp Công ty CP nghe nhìn Toàn cầu (AVG) và cơ quan cảnh sát điều tra đề nghị Bộ Tài chính, Hội Thẩm định giá Việt Nam kiểm điểm, chấn chỉnh…
Đối với toàn bộ ngành nghề thẩm định giá thực hiện Tiêu chuẩn đạo đức hành nghề do Bộ Tài chính quy định:
Nhìn chung, trong quá trình hành nghề những năm qua, đại đa số các thẩm định viên, các doanh nghiệp thẩm định giá đều tuân thủ đúng những quy tắc, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, vì vậy được khách hàng tín nhiệm, xây dựng được thương hiệu trên thị trường, tạo điều kiện giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển bền vững. Kết quả chấm điểm chất lượng thẩm định giá sau kiểm tra của Bộ Tài chính hàng năm đã chứng minh điều đó. Ví dụ: Kết quả chấm điểm xếp hạng doanh nghiệp hoạt động thẩm định giá từ 1/1/2018 đến 31/3/2020 công bố năm 2020 của Bộ Tài chính đối với 193 doanh nghiệp thẩm định giá được kiểm tra, đánh giá theo thang điểm 100 như sau:
STT THANG ĐIỂM ĐẠT ĐƯỢC SỐ LƯỢNG DOANH NGHIỆP TỶ LỆ (%)
1 DN ≥ 80 05 2,59
2 70 ≤ DN < 80 44 22,80
3 60 ≤ DN < 70 92 47,67
4 50 ≤ DN < 60 43 22,28
5 DN < 50 09 4,66
TỔNG: 193 100

B. Những thiếu sót, sai phạm
Bên cạnh những kết quả đạt được như trên thì việc thực hiện các chuẩn mực đạo đức hành nghề thẩm định giá cũng đã bộc lộ những yếu kém, vi phạm thậm chí xảy ra những tiêu cực về đạo đức nghề nghiệp đã được các cơ quan thanh tra kiểm tra phát hiện chỉ rõ, một số vụ việc đã bị cơ quan pháp luật khởi tố hình sự… Các vụ việc vi phạm, sai phạm xảy ra không nhiều, không mang tính đại diện cho ngành nghề, cho các thẩm định viên và các doanh nghiệp thẩm định giá nhưng lại là các vụ việc sai phạm mang tính điển hình khá “nhức nhối”, “nổi tiếng xấu” trong dư luận xã hội mà các phương tiện thông tin đại chúng đã “bêu” tên, xã hội lên án; cụ thể như:
 “Thẩm định giá: những chiêu làm xiếc với tài sản Nhà nước”
 “Những màn phù phép thổi giá”
 “Độc chiêu thổi giá…”
 “Giật mình góc khuất định giá doanh nghiệp từ vụ AVG”
 “Gian lận trong thẩm định giá”
 “Nâng khống thiết bị CDC Hà Nội”
Những sai phạm đó đã gây ra những tác hại không nhỏ, bởi nó làm mất uy tín của ngành nghề, giảm sút lòng tin của xã hội… Chính vì những sai phạm xảy ra, ngoài việc một số thẩm định viên, giám đốc doanh nghiệp vướng vào “vòng lao lý”; Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng đã phải thu hồi giấy phép hành nghề của một số thẩm định viên, của doanh nghiệp và đình chỉ hoạt động kinh doanh dịch vụ thẩm định giá của một số doanh nghiệp thẩm định giá.
Những vi phạm, sai phạm về đạo đức hành nghề thẩm định giá trong những năm qua có thể khái quát lại như sau:
1. Cạnh tranh “không lành mạnh” về giá dịch vụ thẩm định giá giữa các doanh nghiệp thẩm định giá; vi phạm tư cách nghề nghiệp trong hoạt động thẩm định giá. (6)
Như chúng ta đã biết: Cạnh tranh trong nền kinh tế nói chung được hiểu một cách ngắn gọn là việc các chủ thể kinh tế tiến hành đấu tranh giành giật thị trường, khách hàng hay nguồn lực nhằm mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi ích trong sản xuất kinh doanh, trong tiêu dùng. Cạnh tranh “lành mạnh” sẽ tạo động lực cho phát triển, ngược lại cạnh tranh “không lành mạnh” được ví như kẻ thù của cạnh trạnh “lành mạnh” vì nó sẽ làm cho thị trường hoạt động hỗn độn, gây thiệt hại đến lợi ích của người tiêu dùng, của doanh nghiệp và Nhà nước.
Cạnh tranh trong lĩnh vực thẩm định giá cũng không nằm ngoài quy luật đó. Bằng năng lực cạnh tranh tạo ra từ thực lực của mình, các doanh nghiệp đã sử dụng nhiều công cụ để thực hiện chiến lược cạnh tranh trên thị trường, trong đó nổi bật là cạnh tranh về giá dịch vụ thẩm định giá.
Cạnh tranh “lành mạnh” về giá dịch vụ thẩm định giá thông qua các hình thức đấu thầu, đấu giá, thỏa thuận về giá, chào giá cạnh tranh trong những năm trước đây của các doanh nghiệp thẩm định giá trên thị trường thẩm định giá đã tạo ra nhiều lợi ích cho xã hội, cụ thể như:
• Đối với bản thân doanh nghiệp cung ứng dịch vụ: Cạnh tranh đã tạo ra “sức ép” tích cực buộc các doanh nghiệp phải có các biện pháp sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, nâng cao hiệu suất công tác, áp dụng các phương thức quản trị tiên tiến, giảm chi phí đến mức hợp lý, tạo ra sản phẩm dịch vụ có chất lượng với giá cả phù hợp để tồn tại và phát triển.
• Đối với người sử dụng dịch vụ: Cạnh tranh sẽ tạo ra điều kiện góp phần thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng, được sử dụng một dịch vụ với chất lượng tốt, giá cả cạnh tranh, dịch vụ phục vụ chu đáo, chi phí sử dụng hợp lý; Sử dụng nguồn lực có hiệu quả.
• Đối với thị trường: Qua quá trình cạnh tranh sẽ sàng lọc, chọn lựa (một cách tự nhiên) được những doanh nghiệp hoạt động tốt, có uy tín với khách hàng, tiếp tục tồn tại và phát triển đáp ứng nhu cầu của xã hội; loại bỏ được những doanh nghiệp năng lực hoạt động yếu kém, làm ăn có tính “chụp giật” gây phương hại đến lợi ích của khách hàng góp phần làm cho thị trường thẩm định giá phát triển lành mạnh, công khai, minh bạch.
Tuy nhiên, trên thị trường thẩm định giá ở nước ta thời gian gần đây do thị trường thẩm định giá đã bước đầu phát triển hơn, số lượng doanh nghiệp thẩm định giá được thành lập mới nhiều hơn… Để giành giật thị trường và khách hàng thẩm định giá, bên cạnh đại đa số các doanh nghiệp vẫn tổ chức hoạt động có bài bản, nghiêm túc thì đã xuất hiện những doanh nghiệp thực hiện các biện pháp cạnh tranh về giá dịch vụ thẩm định giá “thiếu lành mạnh” thông qua các công cụ như:
- Chào giá dịch vụ thẩm định giá ở mức thấp bất hợp lý đi liền với việc thỏa thuận ngầm về chiết khấu, hoa hồng với khách hàng yêu cầu thẩm định giá tài sản, thậm chí chấp nhận lỗ có chủ đích loại bỏ các doanh nghiệp khác để được lựa chọn các nhu cầu thẩm định giá các lần tiếp theo.
- Sẵn sàng chấp nhận điều kiện của khách hàng nhất là khách hàng thẩm định giá tài sản Nhà nước để thẩm định giá cao cho chủ trương mua sắm và thẩm định giá thấp cho chủ trương bán, thanh lý tài sản Nhà nước làm thất thoát tài sản Nhà nước.
- Cung ứng giá dịch vụ thẩm định giá với mức giá thỏa thuận đi kèm với cung ứng một loại dịch vụ tư vấn khác không thu tiền; tung tin thất thiệt về giá dịch vụ của doanh nghiệp khác, để lôi kéo khách hàng về phía mình.
Tình hình trên đã gây ra các hệ quả xấu như sau:
- Đã xuất hiện tình trạng hoạt động của “thị trường ngầm” về giá dịch vụ thẩm định giá, đẩy thị trường này vào hoạt động trong tình trạng thiếu công khai minh bạch, tạo sự nghi ngờ cho khách hàng về nghề, về năng lực chuyên môn, về đạo đức nghề nghiệp, về chất lượng dịch vụ trong kinh doanh của doanh nghiệp, làm giảm uy tín, thương hiệu của nhiều doanh nghiệp làm ăn tốt, tuân thủ pháp luật trên thị trường.
- Gây thiệt hại đến chính lợi ích của các doanh nghiệp – không những chỉ thiệt hại về lợi ích kinh tế mà thậm chí liên quan đến lĩnh vực hình sự khi thẩm định giá tài sản được mua sắm từ nguồn ngân sách Nhà nước gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước. Đồng thời qua đó tạo ra sự phân hóa trong các doanh nghiệp thẩm định giá.
- Giá dịch vụ thấp bất hợp lý (thấp hơn chi phí bỏ ra) đã dẫn đến có tình trạng không thực hiện đầy đủ quy trình thẩm định giá; hoặc có thực hiện quy trình nhưng quy trình đó không bảo đảm các nguyên tắc: độc lập, khách quan, trung thực… dẫn đến chất lượng dịch vụ thấp, gây thiệt hại đến lợi ích của các thành tố tham gia thị trường. (6)
2. Không tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về thẩm định giá vi phạm các nguyên tắc độc lập, chính trực, khách quan trong hoạt động thẩm định giá, như: “Đẩy cao hoặc hạ thấp bất thường giá trị tài sản là thủ thuật được các công ty thẩm định giá áp dụng, gây thất thoát nặng nề về tài sản Nhà nước, nhiều sai phạm như vậy đã bị phanh phui trong năm nay khiến một số cá nhân phải chịu các hình thức kỷ luật, thậm chí vướng vòng lao lý” (13); Cụ thể:
2.1. Thẩm định giá cho mục đích bán tài sản Nhà nước với giá thấp, thấp hơn nhiều so với giá thị trường (theo cáo buộc của các cơ quan thanh, kiểm tra)
Nhiều vụ sai phạm trong quá trình thoái vốn Nhà nước và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước đã được Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước và cơ quan Công An chỉ rõ trong những năm qua với nguyên nhân mấu chốt là quá trình thẩm định giá làm thất thoát tài sản Nhà nước; Ví dụ:
Trong thương vụ thẩm định giá phục vụ cổ phần hóa Cảng Quy Nhơn do Công ty ATC và Công ty hợp danh Kiểm toán Việt Nam (CPA) thực hiện với giá 404 tỷ đồng, nhưng nguyên Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh và một số chuyên giá đánh giá giá thị trường của Cảng này phải là hàng nghìn tỷ đồng. Có chênh lệch như vậy Thanh tra Chính phủ đã kết luận là do: ATC không thực hiện đúng quy định tại Thông tư số 202/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính; CPA không thực hiện đúng các Tiêu chuẩn thẩm định giá số 5, số 7 do Bộ Tài chính ban hành.
Trong thương vụ thẩm định giá để thoái vốn Nhà nước tại dự án “đất vàng” số 2-4-6 Hai Bà Trưng, Quận 1, TP Hồ Chí Minh của Tổng Công ty CP Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn(SABECO), Kiểm toán Nhà nước đã kết luận: Đơn vị thẩm định giá khi xác định giá trị doanh nghiệp đã không thực hiện đúng hướng dẫn tại Tiêu chuẩn Thẩm định giá Việt Nam về phương pháp so sánh và phương pháp thặng dư, dẫn đến làm giảm đáng kể giá trị thực tế của doanh nghiệp làm cơ sở để xác định giá khởi điểm.

2.2 Thẩm định giá cho mục đích mua sắm tài sản Nhà nước với giá cao, cao hơn nhiều so với giá trị thực của tài sản, tạo điều kiện cho một số đối tượng tha hóa tham nhũng…
Theo kết luận của các cơ quan Thanh tra, Kiểm tra và cơ quan Công an, những vụ thẩm định giá có những sai phạm nổi tiếng như sau:
Thương vụ thẩm định giá tàu lặn Tinro 2 tại Công ty cho thuê tài chính II (Agribank) mà báo chí đã đồng loạt đưa tin: “Thổi giá tàu lặn 100 triệu lên 130 tỷ đồng”; “chiêu hô biến 130 triệu thành 130 tỷ đồng”; “Những màn phù phép thổi giá: 130 triệu thành 130 tỷ đồng”; “độc chiêu thổi giá 130 triệu lên 130 tỷ đồng”… là do thẩm định viên và doanh nghiệp thẩm định giá đã không tuân thủ quy trình thu thập, xử lý thông tin, không tổ chức điều tra khảo sát thực tế hiện trạng tài sản; các thông tin thu thập không được kiểm chứng. Nội dung thông tin thu thập không đúng với bản chất của tài sản về tính pháp lý, giá thị trường, mức độ hao mòn của tài sản.
Thương vụ thẩm định giá giá trị doanh nghiệp để Tổng Công ty Viễn thông Mobifone mua lại Công ty CP Nghe nhìn Toàn Cầu do 3 đơn vị thẩm định giá được thuê thực hiện, Thanh tra Chính phủ đã kết luận: Kết quả thẩm định giá của các đơn vị tư vấn không khách quan, không đảm bảo cơ sở pháp lý và độ tin cậy, vi phạm quy định các Tiêu chuẩn thẩm định giá, giới hạn không đúng nhiều nội dung quan trọng, nhất là về cơ sở tính khả thi của nguồn số liệu kế hoạch giai đoạn 2015-2020 của AVG mà đơn vị tư vấn đã sử dụng để xác định giá trị AVG. Kết quả thẩm định giá của Công ty TNHH định giá Hà Nội – TP Hồ Chí Minh không có cơ sở tin cậy, vi phạm nghiêm trọng các Tiêu chuẩn Thẩm định giá Việt Nam, cụ thể: Xác định giá trị tài sản vô hình từ dữ liệu kế hoạch giai đoạn 2015-2020 do AVG lập với tốc độ tăng trưởng liên tục, đột biến nhưng không có tài liệu chứng minh tính khả thi, không điều tra khảo sát thị trường để so sánh, đánh giá mức độ cạnh tranh trên thị trường dịch vụ truyền hình trả tiền của AVG… Không thực hiện kiểm kê phân loại tài sản, đánh giá lại tài sản…; Không thực hiện đầy đủ nội dung khảo sát thị trường, thu thập thông tin về doanh nghiệp. Đáng chú ý là Công ty TNHH Tư vấn Đầu tư và Thẩm định giá AMAX đã vi phạm nghiêm trọng Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam, cụ thể: Thẩm định viên không hiểu biết về thẩm định giá doanh nghiệp không tham gia xác định giá trị doanh nghiệp nhưng vẫn ký Chứng thư, Báo cáo kết quả thẩm định giá để hưởng hoa hồng “thêm tiền mua sữa cho con”. Công ty thì sử dụng số liệu đầu vào bất hợp pháp, không có cơ sở để tính giá trị tài sản vô hình ngoài Bảng cân đối kế toán. Kết quả thẩm định giá của Công ty được Mobifone sử dụng để mua tài sản đã gây thiệt hại nghiêm trọng vốn Nhà nước tại Mobifone khoảng: 7.006 tỷ đồng.
Thương vụ thẩm định giá hệ thống thiết bị phục vụ phòng chống dịch Covid – 19 của CDC Hà Nội, được coi là “Nâng khống thiết bị tại CDC Hà Nội: Gian lận trong thẩm định giá” (Báo Lao động ngày 10/12/2020) vì: Thẩm định viên giữ chức Giám đốc Công ty thẩm định giá được cơ quan cảnh sát điều tra kết luận: Lập khống thủ tục, hồ sơ thẩm định giá, ký ban hành Chứng thư thẩm định giá theo đúng mức giá do CDC Hà Nội yêu cầu; Ký hợp thức về thời gian Hợp đồng thẩm định giá; Ký hợp thức Chứng thư thẩm định giá gói thầu số 15…
Vụ việc “thổi giá”, nâng khống giá gấp 4 lần Robot Rosa tại Bệnh viện Bạch Mai từ 10 tỷ đồng lên 39 tỷ đồng (Báo Lao động ngày 4/9/2020) do chính thẩm định viên cùng Lãnh đạo Công ty đã có những hành vi gian dối hợp thức hồ sơ…
3. Thẩm định giá ban hành Chứng thư, Báo cáo kết quả thẩm định giá với mức giá theo yêu cầu, theo “mong muốn” của khách hàng, thậm chí gian dối, cấu kết với khách hàng thẩm định giá làm sai lệch hồ sơ để “thổi giá” cao hơn nhiều giá trị thực, tiếp tay cho mưu đồ của khách hàng thẩm định giá “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Theo cáo trạng của cơ quan pháp luật: Vụ thẩm định giá tầu lặn Tinro 2 tại Công ty cho thuê tài chính II (Agribank) từ 130 triệu thành 130 tỷ là theo ý đồ của Tổng Giám đốc Công ty có tài sản. Vụ thẩm định giá thiết bị y tế tại CDC Hà Nội xác định các đối tượng đã câu kết, gian lận, thông đồng, nâng khống giá trị gói thầu mua sắm Hệ thống Realtime PCR tự động xét nghiệm Covid -19, giúp CDC Hà Nội hợp thức hồ sơ để Công ty MST trúng thầu trái quy định gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng cho Nhà nước. Vụ thẩm định giá thiết bị y tế Robot Rosa tại Bệnh viện Bạch Mai bị C03 – Bộ Công An xác định là Thẩm định viên và Công ty Thẩm định giá và dịch vụ tài chính Hà Nội đã câu kết với Công ty CP Công nghệ y tế BMS có thủ đoạn gian lận, câu kết để hợp pháp hóa các thủ tục, ban hành Chứng thư thẩm định giá không có giá trị pháp lý để nâng khống giá lên gấp 4 lần hệ thống thiết bị y tế đưa vào liên doanh liên kết với Bệnh viện Bạch Mai nhằm chiếm đoạt số tiền lớn của người bệnh…
4. Lợi dụng việc thẩm định giá tài sản để vụ lợi bất chính ngoài giá dịch vụ thẩm định giá thông qua các hành vi:
Vòi vĩnh lợi ích với khách hàng cho riêng mình, “xin tiền cà phê”, thậm chí đề nghị nâng thêm giá tài sản tạo ra chênh lệch giá so với giá thị trường của tài sản để “cưa” khoản chênh lệch đó với khách hàng thẩm định giá…
5. Năng lực chuyên môn của các thẩm định viên về giá tại hầu hết các vụ việc thẩm định giá bị các cơ quan thanh kiểm tra, Công an phát hiện có sai phạm đều được kết luận yếu kém do áp dụng chưa đúng, thậm chí sai đối với các quy định, các hướng dẫn hiện hành, nhất là quy trình thẩm định giá, các Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam quy định về các cách tiếp cận và lựa chọn các phương pháp thẩm định giá…
C. Những nguyên nhân dẫn đến những sai phạm về thực hiện đạo đức hành nghề trong quá trình hoạt động cung ứng dịch vụ thẩm định giá.
Nguyên nhân dẫn đến những sai phạm – nhiều trường hợp có thể được coi là suy thoái về đạo đức hành nghề trong hoạt động thẩm định giá thời gian qua bắt nguồn từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan nhưng quyết định là nguyên nhân chủ quan; Cụ thể:
1. Nguyên nhân khách quan:
- Những “mặt trái” của cơ chế thị trường kích thích chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, lối sống chạy theo đồng tiền bất chấp đạo lý đã tác động mạnh đến nhận thức, tư duy và hành động của nghề. Mặt khác do những sức ép của cuộc sống mưu sinh mà một số thẩm định viên, lãnh đạo Công ty thẩm định giá bất chấp cả những quy định hiện hành, sẵn sàng tiến hành các công việc trái pháp luật để vụ lợi.
- Thị trường thẩm định giá, đặc biệt là thông tin thẩm định giá thiếu công khai, minh bạch, nhiễu loạn làm cho quá trình thu thập, phân tích và xử lý thông tin của các thẩm định viên gặp khó khăn, thậm chí sai lệch.
- Một số nội dung quy định của pháp luật về thẩm định giá còn chưa rõ ràng, chặt chẽ, nặng định tính, thiếu định lượng; có những nội dung về thẩm định giá tài sản còn có sự mâu thuẫn, chồng chéo. Thể chế kiểm soát cạnh tranh “không lành mạnh” trong hoạt động thẩm định giá chưa hoàn thiện; Cơ chế kiểm soát đạo đức hành nghề đối với các thẩm định viên chưa đầy đủ.
- Doanh nghiệp thẩm định giá tăng nhanh về số lượng nhưng quy mô nhỏ, đầu tư các nguồn lực cho thẩm định giá hạn chế, năng lực quản trị còn bất cập. Số lượng thẩm định viên về giá tăng, nhưng chất lượng còn hạn chế (cả năng lực, đạo đức kinh doanh, ý thức cạnh tranh). Quy định của pháp luật về điều kiện thành lập doanh nghiệp, Tiêu chuẩn trở thành Tổng giám đốc, giám đốc doanh nghiệp thẩm định giá còn “lỏng lẻo”, thậm chí “dễ dãi” đối với ngành kinh doanh dịch vụ có điều kiện.
2. Nguyên nhân chủ quan:
- Sự thiếu gương mẫu của những người đứng đầu doanh nghiệp; sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện của các thẩm định viên trước sự cám dỗ vật chất trong quá trình hành nghề.
- Trình độ, năng lực nhận thức của các thẩm định viên thông qua nắm vững kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, quyền và nghĩa vụ của mình còn hạn chế; mức độ tự giác thực hiện các quy định làm việc của Công ty, các quy tắc chuẩn mực đạo đức hành nghề không cao.
- Công tác giáo dục đạo đức hành nghề của nhiều doanh nghiệp đối với các thẩm định viên chưa làm thường xuyên; Chưa xây dựng đạo đức hành nghề thành nếp văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp; Đồng thời chưa xây dựng được cơ chế kiểm soát đạo đức hành nghề trong hoạt động nghề nghiệp của doanh nghiệp.
III. Kiến nghị các giải pháp chấn chỉnh, nâng cao đạo đức hành nghề trong hoạt động thẩm định giá.
1. Về phía Nhà nước
- Tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý về hoạt động thẩm định giá nói chung trên cơ sở rà soát các quy định hiện hành để sửa đổi bổ sung cho phù hợp nhất là các Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam xử lý những nội dung hướng dẫn có sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các ngành. Tiến hành bổ sung các điều kiện thành lập doanh nghiệp thẩm định giá, tiêu chuẩn Tổng giám đốc doanh nghiệp. Xây dựng và Ban hành Quy chế kiểm soát “cạnh tranh không lành mạnh” trong hoạt động cung ứng dịch vụ thẩm định giá. Quy định bắt buộc các doanh nghiệp thẩm định giá phải xây dựng, ban hành cơ chế kiểm soát thực thi đạo đức hành nghề của doanh nghiệp phù hợp với Quy định chung của Bộ Tài chính và coi đó là một điều kiện để bảo đảm đủ điều kiện hành nghề hàng năm của doanh nghiệp.
- Thường xuyên cập nhật việc thực thi các chuẩn mực đạo đức hành nghề của các thẩm định viên, các doanh nghiệp để xây dựng nội dung đưa vào chương trình cập nhật kiến thức hàng năm.
- Phối hợp với Hiệp hội ngành nghề, với khách hàng xây dựng và thực thi cơ chế giám sát, kiểm soát đạo đức hành nghề.
2. Về phía các doanh nghiệp thẩm định giá
- Xây dựng và Ban hành Quy chế, cơ chế kiểm soát thực thi đạo đức hành nghề của doanh nghiệp. Xây dựng một chế độ, phương pháp quản lý có hiệu quả và môi trường thẩm định giá chuyên nghiệp, công khai, minh bạch.
- Có chính sách đãi ngộ, trọng dụng người giỏi, bố trí sắp xếp công việc hợp lý, đúng người, đúng việc, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp.
- Thường xuyên giáo dục đạo đức hành nghề cho các thẩm định viên bằng các hình thức thích hợp.
3. Về phía thẩm định viên
- Phải tự tu dưỡng, rèn luyện xây dựng ý thức tự giác chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về thẩm định giá.
- Tự giác và tích cực tham gia đầy đủ các chương trình cập nhật kiến thức về đạo đức nghề nghiệp do Bộ Tài chính và doanh nghiệp tổ chức.
IV. Kết luận
Thẩm định giá là một nghề như những ngành nghề khác trong xã hội, nếu các thẩm định viên và doanh nghiệp không có đạo đức nghề nghiệp, không tuân thủ các đạo đức nghề nghiệp sẽ không thể yêu nghề, gắn bó với nghề và sống bằng nghề. Không có đạo đức nghề nghiệp thì doanh nghiệp đó sẽ thất bại, không thể có uy tín, niềm tin và sự hợp tác lâu dài của khách hàng.
Thực hiện tốt đạo đức hành nghề, thẩm định viên và doanh nghiệp phải xem đó là “sự sống còn” của các cá nhân trong cộng đồng cá nhân của doanh nghiệp và của doanh nghiệp vì nó sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, nâng cao sự tín nhiệm, củng cố lòng tin của khách hàng vào dịch vụ mà mình cung ứng. Do vậy, đòi hỏi các thẩm định viên và doanh nghiệp phải luôn coi đó là một đòi hỏi khắt khe phải thực hiện tốt trong mọi tình huống.

Ths.Nguyễn Tiến Thỏa
CHỦ TỊCH
HỘI THẨM ĐỊNH GIÁ VIỆT NAM





DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Tài chính: Quyết định số 24/2005/QĐ-BTC ngày 18/4/2005 và Thông tư số 158/2014/TT-BTC ngày 27/10/2014 Ban hành Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam.
2. Báo Thanh tra ngày 10/11/2020: “Phi vụ nâng khống giá máy xét nghiệm Covid tại CDC Hà Nội gây thiệt hại 5,4 tỷ đồng”.
3. Báo Đầu tư ngày 4/9/2020: “Vụ nâng không giá thiết bị y tế ở Bạch Mai “móc túi” bệnh nhân hơn 10 tỷ”.
4. Báo Kinh tế Sài Gòn Online: “Đất vàng của Nhà nước tại 2-4-6 Hai Bà Trưng đã bị “hô biến” thành tài sản tư nhân như thế nào?” (ngày 15/9/2020)
5. Báo Tuổi trẻ ngày 18/9/2014: “Vụ đội giá thiết bị lặn: Đề nghị 3 án tử hình”.
6. Hội Thẩm định giá Việt Nam: “Đề án kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh về giá dịch vụ thẩm định giá trong hoạt động thẩm định giá” (ngày 27/3/2013). Đề án: Kiểm soát cạnh tranh không “lành mạnh” trong hoạt động cung ứng dịch vụ thẩm định giá.
7. TSKH Nghiêm Vũ Khải – Ths Lê Thanh Tùng: “Một số vấn đề về đạo đức nghề nghiệp – Thực trạng và giải pháp” (Tạp chí Văn hiến Việt Nam – ngày 13/9/2013)
8. PGS-TS Trần Hải Minh: “Giáo dục đạo đức nghề nghiệp một số vấn đề lý luận” (ngày 21/12/2020).
9. Thanh tra Chính phủ: Thông báo kết luận Thanh tra toàn diện Dự án Tổng Công ty Viễn thông Mobifone mua 95% cổ phần của Công ty CP nghe nhìn Toàn Cầu” VNEXPRESS ngày 14/3/2018.
10. Thanh tra Chính phủ: Thông báo kết luận về việc cổ phần hóa Cảng Quy Nhơn số 1566/KL-TTCP ngày 17/9/2018
11. Ths. Bùi Kim Tuyến: “Một số giải pháp nâng cao đạo đức hành nghề” – Báo Đất Việt ngày 4/9/2020
12. Quốc Hội: Luật Viên chức 2010 (Khoản 2, Điều 3)
13. Hoàng Oanh: “Chặn thất thoát tài sản Nhà nước từ thẩm định giá” (Báo Đấu thầu 12/12/2018)

BUTTON_POST_REPLY